Công tác phòng chống

Bệnh nhân ung thư vú Việt Nam ngày càng trẻ hóa

Mỗi năm Việt Nam có thêm khoảng 7.000 người mắc ung thư vú với tỉ lệ tử vong khoảng 35%. Bệnh nhân mắc ung thư vú ở Việt Nam có xu hướng trẻ hóa.

“Bóng ma” ám ảnh phụ nữ
TS Nguyễn Tiến Quang, Khoa điều trị yêu cầu – BV K (Hà Nội) – cho biết ung thư vú (UTV) là loại bệnh ung thư phổ biến và là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở phụ nữ.
nhungthoiquenxaukhienphunudemacungthuvuAdd Shortcode
Trên thế giới mỗi năm có khoảng 1,4 triệu người mới mắc bệnh và 458.000 người tử vong. Ở Việt Nam, mỗi năm có khoảng 7.000 người mới mắc bệnh, trong đó tỷ lệ tử vong khoảng 35%, cao hơn các nước phát triển,, bệnh có xu hướng trẻ hóa và  tăng dần qua các năm.
Đây là loại bệnh ung thư phổ biến nhất ở phụ nữ thuộc trên 140 quốc gia. UTV là hậu quả của sự rối loạn trong quá trình tái sản xuất tế bào, do sự phát triển nhanh, không kiểm soát được của tế bào ống dẫn sữa hoặc của tiểu thùy vú và là căn bệnh gây tử vong cao nhất cho phụ nữ.
Trên thế giới, cứ 22 giây có 1 người bị chẩn đoán mắc bệnh. Và mỗi 5 phút, có 3 phụ nữ qua đời vì UTV.Nếu phát hiện trễ, chỉ 1 trong 5 phụ nữ bị UTV đã di căn sống thêm được 5 năm sau chẩn đoán.
Ung thư vú nếu được phát hiện và điều trị sớm thì tỷ lệ chữa khỏi bệnh đạt tới 90% và chất lượng sống của bệnh nhân được tăng lên rõ rệt.
Vì vậy, kết quả điều trị ung thư vú tốt hay xấu tùy thuộc vào giai đoạn bệnh lúc được phát hiện.
Nếu ở giai đoạn sớm thì kết quả rất tốt, có thể đạt tới 100%. Nếu phát hiện sớm, khả năng chữa khỏi UTV rất cao, điều trị đơn giản, rẻ tiền và hiệu quả. 50% bệnh nhân UTV có thể được cứu sống bằng các biện pháp: phẫu thuật, xạ trị, hóa chất và kết hợp với các phương pháp tiên tiến khác: liệu pháp nội tiết tố, sinh học (điều trị nhắm trúng đích).
Các yếu tố nguy cơ mắc ung thư vú
 
–        Tuổi tác (tuổi càng cao thì nguy cơ càng tăng, đặc biệt là trên 35 tuổi);
–        Tiền sử gia đình có người mắc ung thư vú: Mẹ, chị, em gái, con gái;
–        Phụ nữ có kinh nguyệt sớm (dưới 12 tuổi), mãn kinh muộn (sau 50 tuổi);
–        Không có con hoặc sinh con đầu lòng sau 30 tuổi;
–        Đột biến gen: BRCA1. BRCA2, BRCA3, p53;
–        Có bệnh lành tính ở vú như viêm, quá sản không điển hình;
–        Ít vận động;
–        Có khẩu phần ăn nhiều mỡ động vật, uống rượu, hút thuốc;
–        Tiếp xúc với tia phóng xạ.
Có thể phòng chống, chữa khỏi
Tuy luôn là bóng ma ám ảnh mọi phụ nữ nhưng UTV hoàn toàn có thể phòng chống và chữa khỏi được. Do đó, khi có một trong số nguy cơ tiềm ẩn như: tiền sử gia đình có chị, em gái, mẹ bị ung thư (nguy cơ UTV cao gấp 6 lần so với bình thường); những người thừa cân, béo phì, hút thuốc lá… chị em cần đi khám, kiểm tra sàng lọc định kỳ.
Phụ nữ từ 40 tuổi có nguy cơ UTV ở mức trung bình cần đi khám và chụp nhũ ảnh mỗi năm. Với những người thuộc nhóm nguy cơ cao kể trên, nên bắt đầu đi khám ở độ tuổi 30 và đề nghị được chụp MRI cho khu vực này.
Nếu bạn từ 20-30 tuổi và thuộc nhóm nguy cơ trung bình, nên đi kiểm tra ngực ít nhất 3 năm một lần. Thường xuyên kiểm tra cảm giác ở ngực, nếu thấy bất thường sau kỳ kinh nguyệt, nên đi gặp bác sĩ ngay.
Ngoài ra, thực hiện chế độ ăn uống lành mạnh (có nhiều trái cây và rau quả), luôn kiểm soát cân nặng, tập thể dục thường xuyên, bổ sung a xít béo Omega- 3, cho con bú sữa mẹ … cũng là những cách phòng tránh UTV rất hữu hiệu mà chị em nên áp dụng.
Theo TS Quang, để phát hiện sớm bệnh ung thư vú, các phương pháp sàng lọc phát hiện sớm ung thư vú có hiệu quả cao hiện nay có: Tự khám vú hàng tháng và khám vú tại các cơ sở y tế chuyên khoa, đặc biệt là những phụ nữ sau 30 tuổi.
Phương pháp thứ 3 là chụp X-quang tuyến vú. Chụp X-quang tuyến vú là biện pháp có vai trò quan trọng trong sàng lọc ung thư vú. Chụp X-quang tuyến vú có thể phát hiện các tổn thương bất thường ở tuyến vú ngay cả khi trên lâm sàng chưa sờ thấy khối u, trong số đó có ung thư.